Hà Tĩnh đang đẩy mạnh kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản, coi đây là nền tảng quan trọng để minh bạch chuỗi cung ứng và nâng sức cạnh tranh cho sản phẩm địa phương. Đến nay, hệ thống truy xuất của tỉnh đã có hơn 280 cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia, với trên 500 sản phẩm được cập nhật.
Hội nghị triển khai sau kế hoạch giai đoạn mới
Chiều ngày 20/07/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh phối hợp với Trung tâm Doanh nghiệp hội nhập và phát triển tổ chức hội nghị triển khai kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn tỉnh. Hoạt động này cụ thể hóa Kế hoạch truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành.
Nội dung hội nghị cho thấy truy xuất nguồn gốc không còn là việc riêng của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, mà đã trở thành yêu cầu quản lý của cả hệ thống nông nghiệp địa phương. Khi dữ liệu sản phẩm, lô sản xuất, cơ sở sản xuất và nhật ký sản xuất được đưa lên một nền tảng chung, cơ quan quản lý có điều kiện giám sát tốt hơn, còn người tiêu dùng có thêm cơ sở nhận diện sản phẩm an toàn.
Đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng để nông sản Hà Tĩnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, minh bạch thông tin và khả năng kết nối với các hệ thống truy xuất cấp quốc gia.
Hơn 280 cơ sở và trên 500 sản phẩm đã cập nhật
Theo thông tin tại hội nghị, Hà Tĩnh đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa của tỉnh. Hệ thống đã được điều chỉnh phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và vận hành ổn định. Hiện có hơn 280 cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia, với trên 500 sản phẩm được cập nhật, chủ yếu là sản phẩm thuộc Chương trình Mỗi xã một sản phẩm và nông sản chủ lực của tỉnh.
Các dữ liệu được chuẩn hóa theo từng nhóm đối tượng quản lý, gồm thông tin cơ sở sản xuất, sản phẩm, lô sản xuất, mã truy xuất nguồn gốc, nhật ký sản xuất và những thông tin liên quan. Cách tổ chức dữ liệu này giúp giảm tình trạng mỗi nơi làm một kiểu, khó kiểm tra và khó chia sẻ.
Với các cơ sở sản xuất nhỏ, việc đưa sản phẩm lên hệ thống cũng là cơ hội rà soát lại quy trình, hồ sơ, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng và trách nhiệm thông tin với người mua.
Dữ liệu tập trung giúp quản lý đồng bộ hơn
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung giúp bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả năng mở rộng và đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng như Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.
Đối với ngành nông nghiệp địa phương, điểm mạnh của dữ liệu tập trung là giảm phụ thuộc vào hồ sơ giấy và những bảng thống kê rời rạc. Khi thông tin được cập nhật thường xuyên, cơ quan chuyên môn có thể theo dõi số lượng sản phẩm tham gia, mức độ đầy đủ của hồ sơ, tình trạng mã truy xuất và khả năng kết nối giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến.
Tuy nhiên, hệ thống chỉ thật sự hiệu quả khi dữ liệu đầu vào chính xác. Điều này đòi hỏi cơ sở sản xuất phải ghi chép nghiêm túc, cập nhật đúng lô hàng, đúng thời điểm và đúng quy trình sản xuất đã công bố.
Minh bạch thông tin để nâng giá trị nông sản
Tại hội nghị, các đại biểu được phổ biến quy chế quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa của tỉnh; đồng thời trao đổi về khó khăn trong xây dựng tiêu chuẩn, mã số, mã vạch và kết nối dữ liệu với hệ thống cấp quốc gia.
Những nội dung này rất cần thiết vì truy xuất nguồn gốc không chỉ là quét mã trên sản phẩm. Đằng sau mã truy xuất phải là dữ liệu thật về cơ sở sản xuất, quy trình canh tác, lô sản phẩm, thời gian sản xuất, tiêu chuẩn áp dụng và trách nhiệm của đơn vị cung cấp. Nếu thiếu dữ liệu tin cậy, mã truy xuất sẽ chỉ mang tính hình thức.
Trong thời gian tới, Hà Tĩnh cần tiếp tục hỗ trợ cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp cập nhật dữ liệu đúng chuẩn, duy trì nhật ký sản xuất và kết nối hệ thống ổn định. Khi truy xuất nguồn gốc được vận hành thực chất, nông sản địa phương sẽ có thêm nền tảng để tăng niềm tin, mở rộng kênh tiêu thụ và nâng sức cạnh tranh.