Ca cao 138.000 đồng/kg • 0,00% Ghana Dầu cọ 32.200 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Lợn hơi 53.400 đồng/kg • 0,00% Hoa Kỳ Cao su 43.874 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Sầu riêng Monthong 145.000 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Hạt điều thô 39.800 đồng/kg • 0,00% Bờ Biển Ngà Gạo 5% tấm 11.786 đồng/kg • 0,00% Thái Lan Đường 9.600 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Thanh long 68.000 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Hồ tiêu 146.000 đồng/kg • 0,00% Indonesia Đường 16.200 đồng/kg • 0,00% Brazil Dầu cọ 28.763 đồng/kg • 0,00% Malaysia Tôm 198.000 đồng/kg • 0,00% Châu Âu Gà thịt 66.800 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Đậu tương 11.300 đồng/kg • 0,00% Hoa Kỳ Cá ngừ 128.000 đồng/kg • 0,00% Tây Ban Nha Cà phê Arabica 191.484 đồng/kg • 0,00% New York Gà thịt 74.200 đồng/kg • 0,00% Châu Âu Cá ngừ 62.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Tôm 172.000 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Dầu cọ 29.800 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Cà phê Arabica 171.000 đồng/kg • 0,00% Colombia Cà phê Arabica 160.000 đồng/kg • 0,00% Sơn La Đậu tương 10.100 đồng/kg • 0,00% Argentina Sầu riêng Monthong 76.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Cao su 42.300 đồng/kg • 0,00% Việt Nam 98.000 đồng/kg • 0,00% Hoa Kỳ Đường 18.800 đồng/kg • 0,00% Trung Quốc Hồ tiêu 174.000 đồng/kg • 0,00% Ấn Độ Ngô 5.200 đồng/kg • 0,00% Brazil Dầu cọ 33.500 đồng/kg • 0,00% Châu Âu Thanh long 24.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Ngô 4.700 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Gà thịt 52.100 đồng/kg • 0,00% Brazil Gạo 5% tấm 9.439 đồng/kg • 0,00% Ấn Độ Hạt điều thô 37.000 đồng/kg • 0,00% Ấn Độ 51.000 đồng/kg • 0,00% Mexico Ca cao 214.000 đồng/kg • 0,00% Hoa Kỳ Cà phê Robusta 94.800 đồng/kg ▼ 0,52% Việt Nam Gà thịt 72.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Cao su 43.800 đồng/kg • 0,00% Malaysia Ngô 6.900 đồng/kg • 0,00% Ukraine Cà phê Robusta 94.200 đồng/kg ▼ 0,63% Lâm Đồng Ca cao 145.000 đồng/kg • 0,00% Bờ Biển Ngà Cà phê Arabica 165.000 đồng/kg • 0,00% Brazil Cá tra 74.800 đồng/kg • 0,00% Hoa Kỳ Cà phê Arabica 194.900 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Tôm 185.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam Lợn hơi 59.800 đồng/kg • 0,00% Châu Âu 38.000 đồng/kg • 0,00% Việt Nam

Đang tải…
Theo dõi trên mạng xã hội        
E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - Hotline: 0945938836
Hạt dẻ Trùng Khánh hiện chủ yếu được bán dưới dạng hạt tươi, hạt rang hoặc đóng gói đơn giản.
Hạt dẻ Trùng Khánh hiện chủ yếu được bán dưới dạng hạt tươi, hạt rang hoặc đóng gói đơn giản.
Information
Thị trường nông sản

Hạt dẻ Trùng Khánh mở rộng vùng nguyên liệu nhưng giá trị chế biến vẫn còn hạn chế

Information
Tổng hợp bởi TN News 13:00, 10/07/2026 (GMT+7)

Hạt dẻ Trùng Khánh đang có cơ hội mở rộng thị trường nhờ chỉ dẫn địa lý, vùng trồng đặc hữu và chương trình phát triển giống ghép giai đoạn 2024 - 2026. Tuy nhiên, quy mô sản xuất hiện còn nhỏ, năng suất giữa các vườn chưa đồng đều và sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng hạt tươi hoặc rang chín. Muốn nâng thu nhập cho người trồng, Cao Bằng cần tổ chức lại vùng nguyên liệu, tăng chế biến và kiểm soát chặt nguồn gốc sản phẩm.

Vùng nguyên liệu nhỏ chưa đáp ứng tiềm năng thị trường

Dẻ Trùng Khánh là cây trồng phù hợp với khí hậu lạnh, đất đồi và sườn núi tại khu vực phía Đông tỉnh Cao Bằng. Cây có giá trị kinh tế cao hơn một số cây trồng truyền thống như ngô, sắn, đồng thời tạo sản phẩm đặc trưng gắn với vùng biên giới và hoạt động du lịch địa phương.

Theo thông tin ngành khoa học và công nghệ Cao Bằng công bố cuối năm 2025, diện tích dẻ tại các xã Trùng Khánh, Đình Phong, Đàm Thủy và khu vực lân cận đạt hơn 500 héc-ta. Sản lượng hạt hằng năm khoảng 160 - 190 tấn. Quy mô này chưa lớn so với nhu cầu tiêu thụ trong mùa du lịch và khả năng mở rộng ra thị trường ngoài tỉnh.

Nguồn cung hạn chế giúp hạt dẻ giữ được tính đặc sản, nhưng cũng gây khó cho doanh nghiệp muốn xây dựng sản phẩm chế biến với sản lượng ổn định. Khi sản lượng phân tán giữa nhiều hộ, chi phí thu gom, phân loại và bảo quản tăng, làm giảm khả năng tổ chức chuỗi hàng hóa quy mô lớn.

Giống ghép mở cơ hội nâng năng suất vườn dẻ

Một hạn chế của vùng dẻ hiện nay là nhiều diện tích được trồng từ hạt, khiến thời gian cho quả kéo dài và chất lượng cây không đồng đều. Có cây cho hạt to, năng suất cao nhưng cũng có vườn ra quả ít, hạt nhỏ hoặc tỷ lệ sâu bệnh lớn. Điều này làm sản lượng giữa các hộ biến động và gây khó cho việc chuẩn hóa nguyên liệu.

Dự án khuyến nông trung ương giai đoạn 2024 - 2026 đặt mục tiêu xây dựng mô hình trồng dẻ Trùng Khánh bằng cây ghép, sử dụng nguồn giống đã được công nhận. Cây ghép có ưu điểm giữ được đặc tính của cây đầu dòng, rút ngắn thời gian kiến thiết và tạo độ đồng đều cao hơn so với trồng bằng hạt.

Việc mở rộng giống ghép có thể giúp hình thành những vùng sản xuất tập trung, thuận lợi cho chăm sóc, thu hoạch và liên kết tiêu thụ. Tuy nhiên, cây giống phải được kiểm soát chặt về nguồn gốc. Nếu nhu cầu tăng nhanh dẫn đến sử dụng cây giống không bảo đảm, vùng trồng mới có thể mất nhiều năm nhưng vẫn không đạt năng suất và chất lượng mong muốn.

Bán hạt thô làm giảm phần giá trị giữ lại

Hạt dẻ Trùng Khánh hiện chủ yếu được bán dưới dạng hạt tươi, hạt rang hoặc đóng gói đơn giản. Cách tiêu thụ này phù hợp với khách du lịch và thị trường địa phương nhưng thời gian bán hàng ngắn, phụ thuộc nhiều vào mùa thu hoạch và khả năng bảo quản.

Hạt tươi có hàm lượng nước cao, dễ mốc, nảy mầm hoặc giảm chất lượng nếu không được làm sạch và bảo quản đúng cách. Những hộ thiếu kho lạnh hoặc thiết bị sơ chế thường phải bán sớm sau thu hoạch, làm giảm khả năng chủ động giá. Khi nguồn cung tập trung trong mùa vụ, người trồng có thể phải phụ thuộc vào thương lái và các điểm bán nhỏ lẻ.

Chế biến thành bột hạt dẻ, bánh, nhân thực phẩm, hạt sấy hoặc sản phẩm quà tặng có thể kéo dài thời gian tiêu thụ và tăng giá trị. Tuy nhiên, các cơ sở cần thiết bị bóc vỏ, sấy, đóng gói, kiểm nghiệm và nguồn nguyên liệu đồng đều. Nếu sản lượng vùng trồng chưa ổn định, doanh nghiệp khó duy trì công suất chế biến quanh năm.

Chỉ dẫn địa lý cần được khai thác hiệu quả hơn

Hạt dẻ Trùng Khánh đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tạo cơ sở pháp lý để phân biệt sản phẩm chính gốc với hạt dẻ từ những vùng khác. Đây là lợi thế quan trọng khi thị trường ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, câu chuyện sản phẩm và đặc trưng vùng miền.

Tuy nhiên, chỉ dẫn địa lý chỉ tạo giá trị khi sản phẩm được quản lý thống nhất từ vùng trồng đến điểm bán. Hộ sản xuất cần ghi chép diện tích, giống, sản lượng và thời điểm thu hoạch. Các cơ sở đóng gói phải sử dụng tem truy xuất, bao bì nhận diện và thông tin rõ ràng, tránh để sản phẩm ngoài vùng được bán dưới tên Trùng Khánh.

Hoạt động xúc tiến cũng cần chuyển từ giới thiệu đặc sản sang kết nối hợp đồng với hệ thống bán lẻ, điểm du lịch và doanh nghiệp chế biến. Khi nguồn cung còn nhỏ, địa phương có thể ưu tiên phân khúc quà tặng và sản phẩm chất lượng cao thay vì cạnh tranh bằng số lượng. Cách tiếp cận này giúp duy trì giá trị đặc hữu và tăng phần lợi ích cho người trồng.

Trong thời gian tới, Cao Bằng cần hoàn thiện vùng giống ghép, xây dựng cơ sở bảo quản và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm chế biến. Khi chỉ dẫn địa lý, chất lượng nguyên liệu và thị trường được quản lý đồng bộ, hạt dẻ Trùng Khánh có thể nâng giá trị mà không phải mở rộng diện tích thiếu kiểm soát.