Thị trường mắc ca đang cho thấy khoảng giá rất rộng giữa nguyên liệu tươi và sản phẩm đã qua chế biến. Mắc ca tươi Đắk Lắk được tham khảo ở mức 70.000 - 90.000 đồng/kg, trong khi mắc ca Đắk Lắk sấy khô còn vỏ đạt 250.000 - 360.000 đồng/kg và sản phẩm sấy khô tách vỏ ở mức 420.000 - 600.000 đồng/kg.
Nếu chỉ nhìn vào mức giá trên mỗi kg, sản phẩm sấy khô tách vỏ có giá cao gấp nhiều lần hạt tươi. So hai mức thấp nhất, khoảng cách từ 70.000 lên 420.000 đồng/kg là 350.000 đồng/kg, tương đương sản phẩm tách vỏ có mức giá gấp 6 lần; ở hai mức cao nhất, 600.000 đồng/kg cũng cao gấp khoảng 6,67 lần mức 90.000 đồng/kg của hạt tươi.
Khoảng cách này không đồng nghĩa cứ 1 kg mắc ca tươi đưa vào chế biến sẽ tạo ra 1 kg nhân mắc ca để hưởng toàn bộ phần chênh lệch. Quá trình sấy làm giảm khối lượng do mất nước, còn tách vỏ tiếp tục làm giảm trọng lượng thành phẩm, bên cạnh chi phí năng lượng, thiết bị, lao động, phân loại, hao hụt, bảo quản và tiêu thụ.
Dù vậy, cơ cấu giá vẫn cho thấy thị trường đang định giá rất khác cho từng trạng thái sản phẩm. Hạt tươi chủ yếu nằm ở đầu chuỗi nguyên liệu, trong khi sản phẩm sấy khô và nhân tách vỏ đã trải qua thêm các công đoạn giúp kéo dài thời gian bảo quản, thuận tiện vận chuyển và phù hợp hơn với nhu cầu tiêu dùng trực tiếp.
Ngay trong nhóm sản phẩm sấy khô, việc tách vỏ tiếp tục tạo khoảng giá đáng kể. Mức thấp nhất của mắc ca sấy tách vỏ là 420.000 đồng/kg, cao hơn 170.000 đồng/kg so với mức thấp nhất 250.000 đồng/kg của mắc ca sấy còn vỏ; nếu so hai mức cao nhất, khoảng cách từ 360.000 lên 600.000 đồng/kg đạt 240.000 đồng/kg.
Khoảng giá của chính từng nhóm cũng khá rộng. Mắc ca tươi dao động 20.000 đồng/kg, mắc ca sấy còn vỏ có biên độ 110.000 đồng/kg, còn sản phẩm sấy tách vỏ có khoảng giá tới 180.000 đồng/kg, cho thấy giá bán sau chế biến còn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng, quy cách và phân khúc sản phẩm.
Thị trường trong nước cũng xuất hiện sự cạnh tranh từ mắc ca nhập khẩu. Mắc ca Úc sấy khô tách vỏ được tham khảo ở mức 800.000 - 850.000 đồng/kg, mắc ca Trung Quốc cùng dạng ở mức 700.000 - 900.000 đồng/kg, tạo thêm những nấc giá mà sản phẩm trong nước phải đối diện khi đi vào phân khúc chế biến và tiêu dùng cuối cùng.
Đối với chuỗi mắc ca Đắk Lắk, khoảng cách giữa hạt tươi và thành phẩm cho thấy dư địa tạo giá trị nằm nhiều ở khâu sau thu hoạch, nhưng giá bán cao hơn không thể được đồng nhất với lợi nhuận cao hơn. Hiệu quả thực tế phụ thuộc tỷ lệ thu hồi nhân, chất lượng nguyên liệu, công suất thiết bị, chi phí sấy, tỷ lệ hạt lỗi và khả năng bán đều sản phẩm sau chế biến.
Vì vậy, bài toán thị trường không chỉ là nâng tỷ lệ mắc ca được chế biến mà còn phải tìm được phân khúc sẵn sàng trả thêm cho chất lượng và sự tiện dụng của thành phẩm. Khi đầu ra đủ ổn định, phần giá trị nằm giữa hạt tươi, hạt sấy còn vỏ và nhân tách vỏ mới có cơ hội được phân bổ tốt hơn cho các mắt xích trong chuỗi.