Ngô sinh khối tại xã Vân Hòa, tỉnh Đắk Lắk đang mở ra hướng chuyển đổi cây trồng có liên kết tiêu thụ rõ, phục vụ nhu cầu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi bò sữa. Mô hình bước đầu có 3 hộ tham gia với 11 ha; năng suất ước khoảng 40 tấn/ha, giá thu mua khoảng 1.350.000 đồng/tấn, doanh thu 54 triệu đồng/ha sau khoảng 3 tháng trồng. Tuy nhiên, muốn bền vững, vùng nguyên liệu cần kiểm soát chi phí vận chuyển, lịch thu hoạch và chất lượng sinh khối.
Nhu cầu thức ăn tạo đầu ra rõ
Ngày 17/04/2026, Ủy ban nhân dân xã Vân Hòa, tỉnh Đắk Lắk tổ chức hội thảo về liên kết sản xuất và phát triển mô hình trồng ngô sinh khối gắn với tiêu thụ sản phẩm. Hội thảo nhằm đánh giá khả năng thích nghi, hiệu quả kinh tế của cây ngô sinh khối trên vùng đất đỏ bazan cao nguyên Vân Hòa, đồng thời kết nối người sản xuất với đơn vị cung ứng giống và tiêu thụ nông sản.
Ở góc độ thị trường, ngô sinh khối có lợi thế vì gắn trực tiếp với nhu cầu thức ăn thô xanh của trang trại bò sữa. Khi đầu ra đã có địa chỉ cụ thể, nông dân bớt phụ thuộc vào thương lái và có cơ sở tính toán vụ sản xuất ngay từ đầu.
Tuy nhiên, khác với ngô hạt, ngô sinh khối phải thu hoạch toàn bộ thân, lá và bắp ở giai đoạn phù hợp. Nếu chậm thu hoạch, chất lượng thức ăn giảm; nếu thu hoạch dồn dập nhưng vận chuyển không kịp, chi phí và hao hụt có thể tăng.
Vùng nguyên liệu gần trang trại giảm chi phí
Theo nguồn khuyến nông, Công ty TNHH Trang trại bò sữa Công nghệ cao Phú Yên có nhu cầu thức ăn thô xanh khoảng 30.000 tấn/năm. Do phần lớn nguyên liệu trước đây phải nhập từ vùng xa, doanh nghiệp mong muốn phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển và bảo đảm thức ăn tươi, mới.
Đây là yếu tố thị trường rất quan trọng. Với ngô sinh khối, giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở khoảng cách vận chuyển. Khối lượng lớn, giá trị trên mỗi kg không cao như trái cây hay thủy sản, nên nếu vùng trồng quá xa điểm tiêu thụ, chi phí logistics có thể làm giảm lợi nhuận.
Xã Vân Hòa có lợi thế khi hình thành vùng nguyên liệu gần nhu cầu sử dụng. Nếu tổ chức được diện tích tập trung, có đường vận chuyển thuận lợi và lịch cắt hợp lý, nông dân có thể bán sản phẩm ổn định hơn, còn trang trại giảm rủi ro thiếu thức ăn.
Doanh nghiệp hỗ trợ giúp nông dân yên tâm
Mô hình hiện đã có 3 hộ nông dân tham gia với quy mô 11 ha. Doanh nghiệp phối hợp với địa phương hỗ trợ giống, thuốc bảo vệ thực vật và cung cấp miễn phí sản phẩm phụ của trang trại gồm phân hữu cơ lỏng, phân hữu cơ đặc để cải tạo đất và tưới cho cây. Theo đánh giá bước đầu, nguồn phân hữu cơ này có tác dụng tốt đối với đất và cây ngô sinh khối trong mô hình.
Ở góc độ thị trường, hỗ trợ đầu vào giúp giảm rào cản ban đầu cho nông dân. Khi người trồng được tạm ứng hoặc hỗ trợ vật tư, họ có thể tham gia chuỗi mà không phải chịu toàn bộ áp lực vốn ngay từ đầu vụ. Đây là điều rất quan trọng với những vùng đang chuyển đổi từ cây trồng truyền thống sang cây hàng hóa mới.
Dù vậy, cơ chế hỗ trợ cần minh bạch. Người dân cần biết rõ chi phí thực, giá thu mua, tiêu chuẩn sinh khối và cách khấu trừ vật tư nếu có. Khi các điều khoản rõ ràng, liên kết mới bền và tránh phát sinh tranh chấp cuối vụ.
Hiệu quả 3 tháng tạo sức hút chuyển đổi
Theo ước tính tại mô hình, năng suất ngô sinh khối khoảng 40 tấn/ha, giá thu mua khoảng 1.350.000 đồng/tấn, doanh thu đạt 54 triệu đồng/ha. Sau khi trừ chi phí công, giống, thuốc và nước tưới, nông dân có thể lãi khoảng 20 triệu đồng/ha sau 3 tháng trồng; nếu sử dụng được nguồn phân hữu cơ hỗ trợ miễn phí từ trang trại, lợi nhuận có thể cao hơn. Trong khi đó, cây sắn, mía trước đây chỉ cho lãi khoảng 10 triệu đồng/ha nhưng mất đến 12 tháng trồng.
Những con số này cho thấy ngô sinh khối có ưu thế về vòng quay vốn. Với chu kỳ ngắn, người dân có thể linh hoạt hơn trong kế hoạch sản xuất, đồng thời giảm rủi ro thời tiết kéo dài.
Tuy nhiên, lợi nhuận không nên chỉ nhìn theo một vụ. Nếu diện tích tăng nhanh mà doanh nghiệp không mở rộng năng lực thu mua, hoặc thời điểm thu hoạch trùng nhau quá nhiều, vùng trồng có thể chịu áp lực cắt bán và vận chuyển.
Muốn thành cây chủ lực cần quản trị chuỗi
Xã Vân Hòa được đánh giá có điều kiện đất đỏ bazan và khí hậu cao nguyên phù hợp để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Địa phương định hướng tiếp tục mở rộng diện tích liên kết, hỗ trợ tổ hợp tác và nông dân tiếp cận chính sách hỗ trợ để đưa ngô sinh khối thành cây trồng chủ lực, góp phần nâng thu nhập cho người dân.
Trong thời gian tới, việc mở rộng cần đi cùng quản trị chuỗi. Địa phương cần xây dựng kế hoạch diện tích theo nhu cầu thực của doanh nghiệp, chia lịch gieo trồng để tránh thu hoạch dồn, thống nhất tiêu chuẩn độ chín sáp, chiều cao cây, tỷ lệ bắp và độ tươi khi giao hàng.
Khi liên kết sản xuất, đầu vào hữu cơ, lịch thu hoạch và tiêu thụ được tổ chức đồng bộ, ngô sinh khối Vân Hòa có thể trở thành vùng nguyên liệu ổn định cho chăn nuôi bò sữa. Điều quan trọng là biến lợi thế gần trang trại thành lợi thế chi phí, chất lượng và hợp đồng dài hạn.