Tôm thẻ chân trắng tại Thanh Hóa đang có thêm hướng nâng hiệu quả nhờ mô hình nuôi thâm canh ứng dụng công nghệ số, giảm phát thải và gắn với tiêu thụ sản phẩm. Mô hình được triển khai tại xã Hoằng Thanh và xã Hoằng Châu, tỉnh Thanh Hóa; đây là các đơn vị hành chính cấp xã hiện hành sau sắp xếp. Việc dùng máy cho ăn tự động, thiết bị đo môi trường và dữ liệu số giúp giảm chi phí, nhưng vốn đầu tư ban đầu vẫn là rào cản lớn với nhiều hộ nuôi.
Công nghệ số giúp giảm rủi ro môi trường
Theo Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa, tôm thẻ chân trắng là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao nhưng rất nhạy cảm với dịch bệnh. Các yếu tố môi trường nước như pH, kiềm, amoniac tổng, nitrit, oxy hòa tan và nhiệt độ nếu biến động mạnh đều có thể làm tôm chậm lớn, giảm sức đề kháng hoặc chết. Vì vậy, mô hình yêu cầu người nuôi theo dõi chất lượng nước hằng ngày, bảo đảm các chỉ tiêu nằm trong ngưỡng cho phép.
Ở góc độ thị trường, kiểm soát môi trường không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn quyết định giá thành. Nếu tôm hao hụt nhiều, chi phí thức ăn, điện, chế phẩm và công chăm sóc trên mỗi kg tôm thương phẩm sẽ tăng. Ngược lại, khi ao nuôi được giám sát liên tục, người nuôi có thể xử lý sớm biến động môi trường, giảm rủi ro mất trắng.
Đây là nền tảng để tôm thẻ Thanh Hóa tiếp cận mô hình sản xuất có dữ liệu, phù hợp hơn với yêu cầu liên kết tiêu thụ và truy xuất nguồn gốc.
Máy cho ăn tự động giảm hao hụt
Điểm nổi bật của mô hình là sử dụng máy cho ăn tự động điều khiển từ xa, giúp tối ưu khẩu phần, giảm lãng phí thức ăn và hạn chế ô nhiễm môi trường ao. Theo nguồn khuyến nông, thiết bị này giúp tiết kiệm 20 - 30% chi phí sản xuất và tới 50% chi phí nhân công; máy có thể vận hành liên tục 24/7, người nuôi điều khiển qua ứng dụng trên điện thoại.
Về thị trường, thức ăn là khoản chi phí lớn trong nuôi tôm thâm canh. Nếu cho ăn thừa, người nuôi vừa mất chi phí, vừa làm chất lượng nước xấu đi, kéo theo nguy cơ dịch bệnh. Nếu cho ăn thiếu, tôm chậm lớn, kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí vận hành.
Máy cho ăn tự động tạo lợi thế ở chỗ cung cấp thức ăn đều hơn, bán kính phun rộng hơn và giảm lượng thức ăn rơi tập trung tại chân máy. Khi khẩu phần được quản lý tốt, người nuôi có thêm cơ hội giữ biên lợi nhuận trong bối cảnh giá vật tư thủy sản còn biến động.
Dữ liệu ao nuôi tạo lợi thế liên kết
Mô hình còn sử dụng thiết bị đo môi trường đa chỉ tiêu, kết hợp công nghệ so màu và ứng dụng điện thoại để đọc kết quả nhanh, lưu trữ dữ liệu tự động theo ngày, tuần, tháng. Dữ liệu có thể xuất file Excel, PDF để quản lý, chia sẻ và theo dõi lịch sử từng ao nuôi.
Đây là điểm rất quan trọng nếu muốn phát triển tôm theo chuỗi. Khi có dữ liệu ao nuôi, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thu mua có thể đánh giá quy trình sản xuất rõ hơn, từ đó thuận lợi trong kiểm soát chất lượng và truy xuất. Người nuôi cũng dễ so sánh hiệu quả từng vụ, từng ao, từng giai đoạn để điều chỉnh kỹ thuật.
Tuy vậy, dữ liệu chỉ có giá trị khi được ghi nhận trung thực và sử dụng thường xuyên. Nếu thiết bị có nhưng người nuôi không cập nhật, không phân tích hoặc không phản ứng kịp khi chỉ tiêu lệch ngưỡng, lợi thế công nghệ sẽ giảm đáng kể.
Mở rộng cần tính bài toán vốn
Sau thời gian triển khai, mô hình cho thấy tốc độ sinh trưởng của tôm khá tốt; giai đoạn ương trong nhà bạt giúp kiểm soát môi trường tốt hơn, còn giai đoạn tháng nuôi thứ 3 chịu tác động của nắng nóng xen mưa lớn nhưng vẫn đạt kết quả nhờ kiểm soát môi trường. Hoạt động tập huấn trong và ngoài mô hình cũng đã thu hút 180 học viên, cùng hội thảo tổng kết có 86 đại biểu tham dự.
Trong thời gian tới, xã Hoằng Thanh và xã Hoằng Châu cần phát triển mô hình theo hướng có tổ nhóm kỹ thuật và đầu mối liên kết tiêu thụ. Người nuôi cần được hỗ trợ tính toán chi phí đầu tư thiết bị, thời gian hoàn vốn, quy mô ao phù hợp và khả năng vận hành.
Công nghệ số có thể giúp tôm thẻ Thanh Hóa giảm rủi ro, giảm chi phí và nâng chất lượng hàng hóa. Nhưng để mô hình lan rộng bền vững, cần giải quyết bài toán vốn, kỹ năng sử dụng thiết bị và hợp đồng đầu ra rõ ràng ngay từ đầu vụ.