Đắk Lắk dự kiến gieo trồng khoảng 240.000 héc ta cây hàng năm trong vụ Hè Thu 2026. Ngành nông nghiệp địa phương đang yêu cầu các xã, phường chủ động bố trí lịch thời vụ, lựa chọn giống phù hợp và tăng cường theo dõi sinh vật gây hại trước những diễn biến bất thường của thời tiết.
Theo kế hoạch sản xuất vụ Hè Thu năm 2026, diện tích gieo trồng của toàn tỉnh tập trung vào các nhóm cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm và cây có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu từng vùng.
Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở điều kiện đất đai, khả năng cung cấp nước, lịch thu hoạch vụ trước và nhu cầu thị trường. Các địa phương được yêu cầu hạn chế tình trạng xuống giống tự phát, không đồng đều hoặc bố trí cây trồng vượt quá khả năng bảo đảm nguồn nước.
Lúa nước chiếm diện tích lớn nhất
Trong tổng diện tích dự kiến gieo trồng, lúa nước chiếm khoảng 94.000 héc ta, tương đương hơn 39 phần trăm kế hoạch toàn vụ.
Lúa tiếp tục là cây trồng có diện tích lớn nhất trong cơ cấu sản xuất vụ Hè Thu của tỉnh. Việc tổ chức xuống giống phải căn cứ vào nguồn nước tại các hồ chứa, công trình thủy lợi, sông, suối và khả năng điều tiết nước ở từng địa bàn.
Ngành nông nghiệp khuyến cáo người dân sử dụng các giống lúa chủ lực có chất lượng và khả năng thích nghi tốt như HT1, VND95-20, ML48, OM4900 và Đài Thơm 8.
Việc lựa chọn giống cần phù hợp với chân đất, thời gian sinh trưởng, điều kiện tưới tiêu và lịch thu hoạch. Những vùng có nguy cơ thiếu nước cuối vụ cần ưu tiên giống ngắn ngày, tránh kéo dài thời gian sản xuất khiến cây lúa gặp khô hạn trong giai đoạn làm đòng hoặc vào chắc hạt.
Các địa phương cũng được yêu cầu tổ chức gieo sạ tập trung, hạn chế kéo dài lịch thời vụ. Xuống giống đồng loạt giúp thuận lợi hơn trong việc điều tiết nước, theo dõi đồng ruộng và phòng trừ sâu bệnh.
Bố trí 48.000 héc ta ngô và 37.000 héc ta sắn
Sau lúa nước, ngô là cây trồng có diện tích lớn thứ hai với khoảng 48.000 héc ta. Sản xuất ngô được bố trí tại những vùng đất phù hợp, có khả năng thoát nước và thuận lợi cho việc liên kết với các cơ sở thu mua, chế biến thức ăn chăn nuôi.
Sắn dự kiến được trồng trên khoảng 37.000 héc ta. Đây là cây nguyên liệu quan trọng đối với hoạt động chế biến tinh bột và một số ngành sản xuất liên quan.
Tuy nhiên, sản xuất sắn cần được kiểm soát chặt chẽ về giống, mật độ và nguồn cây giống. Người dân không nên sử dụng hom giống lấy từ những vùng đã xuất hiện bệnh hoặc không xác định được nguồn gốc.
Diện tích mía trong vụ Hè Thu được xác định khoảng 20.700 héc ta. Việc phát triển vùng nguyên liệu mía cần gắn với khả năng thu mua của nhà máy, chi phí vận chuyển và hiệu quả kinh tế thực tế của người trồng.
Đối với các vùng đã có liên kết sản xuất, doanh nghiệp và người dân cần thống nhất giống, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và phương thức xác định chất lượng nguyên liệu.
Đối với ngô, sắn, rau màu và cây họ đậu, việc kiểm tra đồng ruộng phải được tiến hành thường xuyên ngay từ giai đoạn cây con.
Mở rộng nhóm cây thực phẩm và cây ngắn ngày
Kế hoạch vụ Hè Thu năm 2026 của Đắk Lắk dành khoảng 12.500 héc ta cho các loại cây họ đậu và 7.500 héc ta rau các loại.
Đậu lạc dự kiến được gieo trồng trên khoảng 3.000 héc ta, khoai lang 2.000 héc ta, vừng 1.600 héc ta và đậu tương 600 héc ta. Nhóm cây hàng năm khác chiếm khoảng 12.900 héc ta.
Các loại cây ngắn ngày có vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa sản xuất, phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, diện tích gieo trồng cần gắn với khả năng tiêu thụ, tránh mở rộng tự phát khi giá một loại nông sản tăng trong thời gian ngắn.
Đối với rau màu, cơ quan chuyên môn khuyến cáo người dân lựa chọn giống rõ nguồn gốc, sử dụng phân bón hợp lý và tuân thủ thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật.
Những vùng chuyên canh cần tăng cường ghi chép quá trình sản xuất, từng bước xây dựng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của cơ sở thu mua.
Kỳ vọng đạt hơn 1 triệu tấn lương thực có hạt
Tổng sản lượng lương thực có hạt của vụ Hè Thu năm 2026 được Đắk Lắk dự kiến đạt khoảng 1.071.200 tấn.
Trong đó, sản lượng thóc ước đạt 735.200 tấn và sản lượng ngô khoảng 336.000 tấn. Đây là hai nhóm sản phẩm giữ vai trò chính trong cơ cấu lương thực của vụ sản xuất.
Để đạt mục tiêu này, năng suất cây trồng phải được duy trì ổn định, đồng thời hạn chế thiệt hại do hạn hán, mưa lớn, ngập úng, sâu bệnh và biến động giá vật tư đầu vào.
Các địa phương cần theo dõi sát quá trình sinh trưởng của cây trồng, kịp thời phát hiện những khu vực thiếu nước, úng nước hoặc có dấu hiệu xuất hiện sinh vật gây hại.
Việc thống kê diện tích gieo trồng cũng phải được thực hiện thường xuyên để cơ quan quản lý có cơ sở điều chỉnh lịch sản xuất, bố trí nguồn nước và hướng dẫn nông dân chăm sóc cây trồng.
Tập trung xuống giống từ ngày 20/05/2026 đến ngày 20/06/2026
Khung thời gian xuống giống tập trung đối với trà chính vụ được xác định từ ngày 20/05/2026 đến ngày 20/06/2026.
Tuy nhiên, lịch cụ thể tại từng khu vực phải căn cứ vào tình hình thời tiết, độ ẩm đất, nguồn nước tưới và thời điểm thu hoạch cây trồng vụ trước.
Tại những vùng chưa bảo đảm độ ẩm hoặc nguồn nước, người dân không nên xuống giống theo tâm lý chạy theo tiến độ. Gieo trồng khi đất quá khô có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm, khiến cây sinh trưởng không đồng đều và làm tăng chi phí gieo lại.
Ngược lại, những khu vực có nguy cơ mưa lớn hoặc ngập cục bộ cần chủ động khơi thông dòng chảy, gia cố bờ vùng và bố trí hệ thống thoát nước trước khi gieo trồng.
Các xã, phường được yêu cầu theo dõi chặt chẽ tiến độ xuống giống, tổng hợp diện tích từng loại cây và kịp thời báo cáo những khó khăn phát sinh.
Nguy cơ sinh vật gây hại tăng trong điều kiện thời tiết bất thường
Theo nhận định được ngành nông nghiệp Đắk Lắk sử dụng trong kế hoạch sản xuất, hiện tượng El Nino hình thành từ tháng 06/2026 có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các đợt nắng nóng và thiếu nước cục bộ.
Bên cạnh đó, thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao xen kẽ với những đợt nắng nóng có thể tạo điều kiện cho sinh vật gây hại phát sinh sớm và gia tăng mật độ.
Trên cây lúa, người dân cần chú ý các nhóm sâu bệnh có khả năng xuất hiện trong điều kiện nóng ẩm, đặc biệt tại những diện tích gieo sạ dày, sử dụng nhiều phân đạm hoặc xuống giống không đồng loạt.
Đối với ngô, sắn, rau màu và cây họ đậu, việc kiểm tra đồng ruộng phải được tiến hành thường xuyên ngay từ giai đoạn cây con. Những diện tích có dấu hiệu bất thường cần được xác định đúng nguyên nhân trước khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Ngành nông nghiệp yêu cầu các đơn vị chuyên môn nâng cao chất lượng dự tính, dự báo, thông báo kịp thời tình hình sinh vật gây hại và hướng dẫn biện pháp xử lý phù hợp.
Việc phòng trừ phải thực hiện theo hướng tổng hợp, ưu tiên biện pháp canh tác, giống chống chịu, bảo vệ thiên địch và sử dụng thuốc đúng loại, đúng liều lượng, đúng thời điểm.
Chủ động nguồn nước cho từng vùng sản xuất
Nguồn nước được xác định là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả vụ Hè Thu.
Các đơn vị quản lý công trình thủy lợi cần xây dựng phương án vận hành hồ chứa, kênh mương và trạm bơm phù hợp với nhu cầu sản xuất. Việc cấp nước phải được thực hiện theo thứ tự ưu tiên, hạn chế thất thoát và tránh tình trạng tranh chấp nguồn nước giữa các khu vực.
Người dân cần áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm, giữ ẩm cho đất và chủ động sử dụng vật liệu che phủ đối với những loại cây phù hợp.
Tại các vùng sản xuất thường xuyên thiếu nước, địa phương cần rà soát lại cơ cấu cây trồng, hạn chế bố trí những loại cây có nhu cầu nước cao hoặc thời gian sinh trưởng dài.
Chuyển đổi cây trồng chỉ nên thực hiện khi có đánh giá cụ thể về đất đai, nguồn nước, thị trường và hiệu quả kinh tế. Việc chuyển đổi tự phát có thể làm phát sinh rủi ro về tiêu thụ và phá vỡ quy hoạch vùng sản xuất.
Với kế hoạch khoảng 240.000 héc ta, vụ Hè Thu năm 2026 tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Đắk Lắk. Kết quả của vụ sản xuất phụ thuộc lớn vào khả năng tuân thủ lịch thời vụ, bảo đảm nguồn nước, kiểm soát sinh vật gây hại và tổ chức tiêu thụ nông sản ngay từ đầu vụ.